“Tài khoản vốn đầu tư” đang làm khó nhà đầu tư nước ngoài

0
54

Theo quy định hiện hành, khi góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp, nhà đầu tư nước ngoài (NĐTNN) phải mở tài khoản vốn tại một ngân hàng ở Việt Nam. Hiện nay, tài khoản vốn đầu tư được phân thành tài khoản vốn đầu tư gián tiếp (TKVĐTGT) theo Thông tư 05/2014/TT-NHNN và tài khoản vốn đầu tư trực tiếp (TKVĐTTT) theo Thông tư 19/2014/TT-NHNN.

Hiểu một cách đơn giản, TKVĐTGT là tài khoản vốn của NĐTNN, dành riêng cho hoạt động đầu tư gián tiếp (FII) như đầu tư thông qua việc mua, bán chứng khoán, các giấy tờ có giá khác, góp vốn, mua cổ phần và thông qua các quỹ đầu tư chứng khoán, các định chế tài chính trung gian khác theo quy định của pháp luật hay việc góp vốn, mua bán cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp mà không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư.

TKVĐTTT là tài khoản của doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp (FDI) được áp dụng cho NĐTNN đầu tư theo hình thức thành lập doanh nghiệp, tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh, hay là đầu tư thông qua hình thức góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp để tham gia điều hành và quản lý doanh nghiệp.

Thực tế khi tham gia góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, với tư cách là thành viên hay cổ đông, NĐTNN hoàn toàn có đầy đủ các quyền để tham gia quản lý và điều hành doanh nghiệp tương ứng với phần vốn góp hay số cổ phần mà họ nắm giữ. Hơn nữa, việc Thông tư 05/2014/TT-NHNN và Thông tư 19/2014/TT-NHNN không đưa ra hướng dẫn cụ thể như thế nào là “trực tiếp tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp” cùng với việc các khái niệm về “đầu tư trực tiếp” và “đầu tư gián tiếp” không còn được đề cập kể từ ngày Luật đầu tư 2014 có hiệu lực đã khiến cho việc phân chia TKVĐTTT và TKVĐTGT trở nên khá mơ hồ.

Thế nhưng, đã hơn bốn năm trôi qua kể từ ngày Thông tư 05/2014/TT-NHNN và Thông tư 19/2014/TT-NHNN có hiệu lực, câu chuyện tài khoản vốn vẫn chưa được giải quyết một cách thỏa đáng về mặt luật định. Song, ở thời điểm hiện tại, vẫn chưa có bất kỳ một dấu hiệu nào cho thấy các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ ban hành một văn bản pháp luật để khắc phục vấn đề này.

Việc mở TKVĐTTT đòi hỏi doanh nghiệp phải có Giấy chứng nhận đầu tư (Điều 11 của Thông tư 19/2014/TT-NHNN), nay là Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư (GCNĐKĐT) theo Luật Đầu tư 2014. Tuy nhiên, khi góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp, NĐTNN lại không phải thực hiện thủ tục xin cấp GCNĐKĐT, cho dù NĐTNN có sở hữu từ 51% trở lên hay thậm chí là 100% vốn điều lệ của doanh nghiệp (Điều 46.1 của Nghị định 118/2015/NĐ-CP).

Do đó, mặc dù là đầu tư trực tiếp theo Thông tư 19/2014/TT-NHNN nhưng doanh nghiệp lại không thể mở TKVĐTTT để NĐTNN chuyển tiền vốn đầu tư. Ngày 18-9-2017, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã có Công văn số 7546/BKHĐT-PC phúc đáp Công ty luật TNHH Sài Gòn Phú Sỹ để giải quyết trường hợp tương tự nêu trên. Khi đó, NĐTNN sẽ phải mở TKVĐTGT và việc chuyển tiền vốn đầu tư sẽ được thực hiện theo Thông tư 05/2014/TT-NHNN. Việc mở TKVĐTGT ở đây dường như không phù hợp về mặt bản chất vì khi NĐTNN góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp trong trường hợp này thì không thể nói rằng NĐTNN không trực tiếp tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp mà thậm chí họ còn có thể nắm quyền kiểm soát doanh nghiệp.

Thực tiễn hiện nay đã có một số biến dạng so với luật định và Công văn 7546. Cụ thể, khi việc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào doanh nghiệp dẫn đến NĐTNN nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên của doanh nghiệp, NĐTNN sẽ phải thực hiện thủ tục đăng ký xin chấp thuận góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền (Điều 26.1 của Luật Đầu tư 2014).

Dựa trên chấp thuận này, một số ngân hàng đã yêu cầu doanh nghiệp có vốn FDI phải mở TKVĐTTT để NĐTNN chuyển tiền vốn đầu tư mặc dù những doanh nghiệp này không hề có GCNĐKĐT. Để giải thích cho hành động trên, các ngân hàng lý giải rằng việc NĐTNN nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên đã tạo ra cho NĐTNN khả năng trực tiếp tham gia điều hành và quản lý doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp 2014 nên buộc doanh nghiệp phải mở TKVĐTTT để NĐTNN thực hiện hoạt động đầu tư.

Cách giải quyết như thực tiễn của một số ngân hàng thương mại nêu trên đã khiến cho việc áp dụng pháp luật được linh hoạt, phù hợp với tinh thần đổi mới, cải cách của Luật Đầu tư 2014 và Luật Doanh nghiệp 2014. Tuy nhiên, việc áp dụng mà không có căn cứ pháp lý vô tình đã tạo nên một sự lúng túng và dè chừng cho các NĐTNN và các doanh nghiệp FDI vì lo sợ dòng tiền của NĐTNN không được chuyển đi đúng tài khoản và từ đó có thể sẽ dẫn đến một số hậu quả pháp lý phức tạp như bị xử lý/khóa tài khoản vốn đầu tư hay gặp khó khăn trong việc thu lại lợi nhuận từ tài khoản vốn đầu tư…

Để tránh việc áp dụng không thống nhất giữa luật và thực tiễn cũng như để các văn bản luật được áp dụng một cách hài hòa, các quy định tại Thông tư 05/2014/TT-NHNN và Thông tư 19/2014/TT-NHNN cần được sửa đổi theo hướng thống nhất với các quy định của Luật Đầu tư 2014, Luật Doanh nghiệp 2014 cũng như hướng giải quyết của một số ngân hàng hiện nay để có thể giúp gỡ thế khó cho các NĐTNN cũng như tạo ra được một khung pháp lý minh bạch, rõ ràng để họ có thể an tâm khi đầu tư vào Việt Nam. Qua đó, việc thu hút nguồn vốn FDI cũng sẽ được thúc đẩy một cách tích cực và mạnh mẽ hơn, góp phần phát triển kinh tế – xã hội để có thể đưa Việt Nam lên một tầm cao mới, đồng thời rút ngắn khoảng cách hội nhập của Việt Nam với các quốc gia phát triển trên thế giới.

 

LEAVE A REPLY