Nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải và dấu ấn Luật doanh nghiệp

    0
    14

    Ông Trần Xuân Giá – Nguyên Bộ trưởng Kế hoạch & Đầu tư chia sẻ với VnExpress về những dấu ấn trong nhiệm kỳ của Thủ tướng Phan Văn Khải (1997-2006).

    Từ trái qua: Nhà thơ Việt Phương; ông Trần Đức Nguyên - nguyên Trưởng ban nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải; nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải và ông Trần Xuân Giá. Ảnh tư liệu.

    Từ trái qua: Nhà thơ Việt Phương; ông Trần Đức Nguyên – nguyên Trưởng ban nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải; nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải và ông Trần Xuân Giá. Ảnh tư liệu.

    Là người có thời gian làm việc nhiều năm liên tục bên cạnh nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải, theo ông, đâu là dấu ấn đậm nét nhất mà nguyên Thủ tướng để lại trong thời gian 9 năm lãnh đạo Chính phủ?

    Từng có mối quan hệ bạn bè, đồng nghiệp trong 57 năm với nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải, tôi thấy anh Sáu là con người thực sự cầu thị, luôn rất nhất quán, mạnh mẽ trong đổi mới và hội nhập để phát triển đất nước.

    Ai cũng biết vấn đề cốt lõi nhất, khó nhất trong đổi mới kinh tế ở Việt Nam là chuyển nền kinh tế từ thực chất là đơn thành phần sở hữu sang đa thành phần sở hữu. Vì vậy, đây cũng là vấn đề đấu tranh dai dẳng, gay gắt nhất giữa các quan điểm mới, cũ, bảo thủ, đổi mới trong mấy chục năm qua. Trọng tâm ở đây là vấn đề tạo điều kiện để doanh nghiệp tư nhân được hình thành và phát triển.

    Trong 9 năm với gần 2 nhiệm kỳ Thủ tướng, dấu ấn đậm nét nhất của anh Sáu là đã quyết liệt chỉ đạo phát triển doanh nghiệp tư nhân. Ngay đầu nhiệm kỳ Thủ tướng, anh đã đề ra mục tiêu đến năm 2010 chúng ta phải có một triệu doanh nghiệp. Nhưng muốn phát triển phải có luật. Luật Doanh nghiệp năm 1999 (có hiệu lực từ 1/1/2000) đã ra đời. Theo tôi, đây là một trong những đột phá lớn về đổi mới thể chế, về thay đổi cung cách điều hành phát triển đất nước.

    – Nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải đã chỉ đạo như thế nào về nội dung của đạo luật này, thưa ông?

    – Anh Sáu thường tự mình nêu hoặc ủng hộ nhiệt tình các tư tưởng mới của Luật Doanh nghiệp, chẳng hạn nêu công thức “người dân có thể làm bất kể việc gì mà pháp luật không cấm” thay cho công thức “người dân chỉ có thể làm những gì nhà nước cho phép” đã tồn tại một thời gian rất dài trước đó; “Nhà nước chỉ làm những gì người dân không làm được hoặc không muốn làm”…

    Thông qua được các quan điểm mới như vậy đã khó, nhưng thực hiện nó còn khó hơn gấp bội, bởi lẽ đây thực chất là giảm bớt, thậm chí cắt bỏ quyền của người này, người khác trong hệ thống chính trị.

    Sau khi Luật Doanh nghiệp ra đời, lần đầu tiên trong lịch sử hành pháp, Việt Nam thành lập Tổ thi hành Luật do Bộ trưởng Kế hoạch Đầu tư lúc bấy giờ là ông làm Tổ trưởng. Vậy nhiệm vụ và hiệu quả của Tổ này như thế nào?

    – Luật Doanh nghiệp 1999 được thông qua, anh Sáu Khải là người trực tiếp chỉ đạo việc triển khai thi hành Luật. Chỉ trong một tháng 28 ngày sau khi Luật có hiệu lực thi hành, Chính phủ, Thủ tướng đã ban hành đủ các văn bản hướng dẫn. Đây thực sự là một kỷ lục mà cho đến nay chưa có trường hợp nào vượt qua. Trên cơ sở đó, Anh Sáu Khải ký quyết định thành lập Tổ thi hành Luật, do Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư đứng đầu, anh Lê Đăng Doanh – Viện trưởng Viện quản lý kinh tế Trung ương làm Tổ phó.

    Thông qua hoạt động của Tổ này chúng tôi phát hiện ra quá nhiều điều kỳ quặc, hành dân là chính trong quản lý hành chính. Chẳng hạn, muốn hành nghề bán báo lẻ, đánh máy chữ phải có giấy phép có hiệu lực trong 3 tháng, tức 3 tháng phải tốn thời gian cho một lần xin phép. Nhặt kim loại, giấy vụn, vẽ tranh truyền thần cũng phải xin phép; hay doanh nghiệp tư nhân không được đóng sà lan 20 tấn…

    Nhờ hoạt động năng nổ, quyết liệt của của Tổ này và sự vào cuộc rất tận tâm, tận lực của Thủ tướng Phan Văn Khải, trong thời gian rất ngắn chúng tôi xóa được một khối lượng rất lớn các giấy phép con (khoảng ½ số giấy phép con lúc bấy giờ).

    Qua các hoạt động tổ chức thi hành Luật Doanh nghiệp năm 1999, anh Sáu Khải và tôi còn rút ra một điều hệ trọng nữa là xóa “giấy phép con”, tức xóa rào cản trong phát triển doanh nghiệp tư nhân đã cam go, nhưng việc chống mọc ra các rào cản mới dưới nhiều hình thức khác nhau còn cam go gấp nhiều lần, bởi lực lượng bảo thủ, thực chất là chống lại đổi mới luôn tồn tại, song hành trong quá trình đổi mới ở đất nước. Bởi một khi quyền gắn với lợi thì người ta bằng mọi cách, mọi thủ đoạn cố bám giữ, nhất là một khi những cái lợi của những con người riêng lẻ liên kết lại với nhau thành nhóm…

    Người chuyên lo cân đối vĩ mô

    Thời gian ông Phan Văn Khải làm Thủ tướng cũng là lúc nền kinh tế phải đối mặt với khủng hoảng tài chính khu vực. Lúc đó, người đứng đầu Chính phủ đã làm gì để đưa đất nước vượt qua khó khăn?

    – Trong thời gian dài, kể cả khi chưa làm Thủ tướng, anh Sáu Khải nổi tiếng là người chuyên lo cân đối vĩ mô, trước hết là cân đối ngân sách, bởi ở Việt Nam cũng như các nước trên thế giới, bất ổn kinh tế vĩ mô luôn bắt nguồn từ mất cân đối ngân sách. Ngay từ khi còn làm Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, một mặt anh chủ trì việc xây dựng Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế, xã hội 10 năm đầu tiên ở nước ta. Mặt khác anh tham gia tích cực trong việc giúp Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười trong cuộc chiến “chống lạm phát phi mã”.

    Chúng ta chống lạm phát phi mã thành công nhờ thực hiện quyết liệt một loạt giải pháp, trong đó việc thực hiện giải pháp “ngân sách thu lấy mà chi” (thay cho in tiền để chi tiêu), “ngân hàng vay lấy mà cho vay” (thay cho in tiền để cho vay) có vai trò hết sức quan trọng. Và sau này, khi trở thành Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, rồi Thủ tướng gần hai nhiệm kỳ, anh Khải liên tục lo cân đối kinh tế tế vĩ mô.

    Không chỉ lo cân đối về mặt giá trị, anh còn hết sức quan tâm đến cân đối về mặt hiện vật, nhất là năng lượng. Anh có vai trò nổi bật trong việc thực hiện Dự án Khí điện đạm Phú Mỹ, trong đó có 6 nhà máy điện. Có lúc khu khí điện đạm Phú Mỹ đã bảo đảm cân đối 40% tổng lượng điện cả nước. Anh cũng có vai trò lớn trong thực hiện dự án Thủy điện Sơn La…

    Trong giai đoạn khủng hoảng tài chính khu vực năm 1997-1998 và kéo dài vài năm sau đó, anh Khải cũng là người đề xướng hoặc ủng hộ nhiều giải pháp đưa đất nước vượt qua khủng hoảng. Nhưng điều quan trọng hơn, anh nhìn thấy trong khủng hoảng những cơ hội mới để phát triển đất nước, góp phần quan trọng vào xóa đói giảm nghèo…

    Nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải và ông Trần Xuân Giá. Ảnh tư liệu.

    Nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải và ông Trần Xuân Giá. Ảnh tư liệu.

    Chương trình xóa đói giảm nghèo đến nay vẫn đang được thực hiện. Nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải đã khai sinh nó như thế nào, thưa ông?

    – Suốt mấy chục năm làm việc bên cạnh anh Sáu Khải, tôi rất cảm động bởi ai đề xuất cái gì liên quan đến hỗ trợ người nghèo thì anh đều nghe theo.

    Năm 1993, khi còn là phó Chủ tịch hội đồng Bộ trưởng phụ trách mảng kinh tế, từ việc nhờ nước ngoài nghiên cứu xác định tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí lúc bấy giờ thì con số hộ nghèo ở Việt Nam là 58%, anh đã đề ra chương trình xoá đói giảm nghèo và không ngừng bổ sung một số chương trình, quyết định cụ thể và thiết thực.

    Có thể kể đến là chương trình xóa đói giảm nghèo đề ra năm 1993, những năm sau còn có chương trình 135 giúp các huyện khó khăn, quyết định 35 xây dựng trung tâm cụm xã vùng núi, quyết định 132 khuyến khích phát triển ngành nghề nông thôn, chương trình 143 hỗ trợ đồng bào dân tộc có nhà ở, đất ở…

    Tất nhiên công cuộc xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam là chủ trương chung và có sự vào cuộc của cả hệ thống. Với anh Sáu Khải, chiều dài từ phó Chủ tịch hội đồng Bộ trưởng rồi Phó thủ tướng, Thủ tướng, anh luôn chăm lo cho người nghèo một cách nhất quán. Chương trình xoá đói giảm nghèo được hình thành từ ¼ thế kỷ trước đến nay vẫn được thực hiện, đem lại kết quả to lớn. Và chính Ngân hàng thế giới đã đem kinh nghiệm xóa đói giảm nghèo của Việt Nam phổ biến cho nhiều nước trên thế giới.

    Trên góc độ cá nhân, ông ấn tượng về nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải ở nét tính cách nào?

    Anh Sáu Khải là con người tình cảm với bạn bè, tuy chúng tôi có cách nhau về tuổi đời, về địa vị xã hội nhưng anh luôn coi tôi là bạn và lắng nghe ý kiến. Khi tôi là cấp dưới, là Bộ trưởng còn anh là Thủ tướng nhưng khi nói năng không phân biệt trên dưới. Chính sự bình đẳng đó giúp cho mọi người có thể nói những ý kiến của mình với Thủ tướng, thậm chí trái chiều mà không sợ bị thành kiến. Với gia đình, đồng nghiệp anh đều đối xử cực kỳ tốt.

    Thời kỳ tôi làm Trưởng ban nghiên cứu của Thủ tướng, anh Sáu Khải rất quan tâm đến các ý kiến phản biện của Ban. Rất nhiều văn bản đã qua hết tất cả các khâu của quá trình chuẩn bị, nhưng nếu thấy còn băn khoăn anh Sáu thường chuyển cho Ban nghiên cứu rà soát lần cuối trước khi ký. Sau thời gian rất ngắn rà soát, chúng tôi “trả” lại cho Thủ tướng dưới ba dạng là: Kiến nghị ký ban hành, Kiến nghị ký ban hành sau khi sửa đổi, bổ sung, và Kiến nghị không nên ban hành. Anh Sáu luôn cám ơn Ban nghiên cứu về hoạt động này, bởi nhờ đó mà giảm thiểu được các văn bản quản lý không phù hợp với cuộc sống, ảnh hưởng đến niềm tin của dân đối với chính quyền.

    Từ nhận thức của mình, tôi thấy anh Phan Văn Khải chưa bao giờ và không bao giờ ham hố quyền lực, đấu tranh để giành quyền lợi hay địa vị cho mình. Nhưng tổ chức phân công việc gì thì anh làm hết sức. Tôi nhớ là sau khi Chủ tich Hội đồng bộ trưởng Đỗ Mười chuyển sang làm Tổng bí thư (năm 1991), khá nhiều người, kể cả những người tiếng nói có trọng lượng kiến nghị đề cử anh làm Thủ tướng, nhưng anh chỉ cám ơn và từ chối. Anh thường nhắc đi nhắc lại câu “các anh cứ để tôi làm phó, xem chân cẳng ra sao rồi hẵng hay”.

    Nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải đã từ trần vào hồi 1h30 hôm nay 17/3 tại quê nhà Củ Chi, TP HCM.

    Ông Phan Văn Khải sinh ngày 25/12/1933 ở xã Tân Thông Hội, huyện Củ Chi, TP HCM; tham gia phong trào cách mạng từ năm 1947 khi 14 tuổi, vào Đảng năm 26 tuổi; từng kinh qua các chức vụ: Phó bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND TP HCM, Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, Phó Thủ tướng.

    Tháng 9/1997, ông được bầu làm Thủ tướng. Tháng 7/2002, ông tiếp tục được bầu làm Thủ tướng nhiệm kỳ thứ hai. Đến tháng 6/2006, ông xin từ nhiệm trước nhiệm kỳ một năm.

    LEAVE A REPLY