Giấy phép bán lẻ với “tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài”

0
134

Chính phủ đã ban hành Nghị định 09/2018/NĐ-CP có hiệu lực thi hành từ ngày 15-1-2018, thay thế Nghị định 23/2007/NĐ-CP. Nghị định mới này là một bước tiến lớn trong chính sách quản lý và thu hút đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa, nhất là trong bối cảnh thị trường bán lẻ tại Việt Nam đang hết sức sôi động với sự tham gia của rất nhiều doanh nghiệp ngoại có tiềm lực tài chính hùng hậu.

 

Một siêu thị có vốn đầu tư của Thái Lan tại TPHCM. Ảnh: QUỐC HÙNG

 

 

 

 

 

 

 

Nhìn chung, Nghị định 09 đã có nhiều quy định mới khắc phục được những thiếu sót, bất cập của Nghị định 23 vốn không còn tương thích với các quy định mới của Luật Đầu tư 2014. Ngoài ra, với việc thu hẹp các trường hợp buộc phải xin cấp giấy phép kinh doanh (như khi thực hiện quyền phân phối bán buôn, quyền nhập khẩu) cũng như miễn trừ hoàn toàn (cho quyền xuất khẩu)(1), Nghị định 09 đã tạo một bước đột phá mới trong tư duy quản lý, qua đó giảm tải được các thủ tục hành chính rườm rà không cần thiết, đúng với tinh thần “Chính phủ kiến tạo” mà Thủ tướng đã khởi xướng.

Như vậy, trong phạm vi cấp giấy phép kinh doanh cho tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, Nghị định 09 chỉ còn bao gồm các trường hợp: (i) thực hiện quyền phân phối bán lẻ (tất cả các loại hàng hóa); (ii) thực hiện quyền nhập khẩu, quyền phân phối bán buôn các loại hàng hóa là dầu, mỡ bôi trơn; và (iii) cho thuê hàng hóa (trừ cho thuê tài chính, cho thuê trang thiết bị xây dựng có người vận hành) và cung cấp các dịch vụ bao gồm: logistics, xúc tiến thương mại, trung gian thương mại, thương mại điện tử, tổ chức đấu thầu hàng hóa, dịch vụ.

Tuy vậy, theo quan điểm của người viết, nghị định mới quy định đối tượng áp dụng vẫn còn khá rộng và chưa chặt chẽ, rõ ràng. Cụ thể, tại điều 1 và điều 2, Nghị định 09 khẳng định việc điều chỉnh theo nghị định này chỉ liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của hai đối tượng: (1) nhà đầu tư nước ngoài (NĐTNN) và (2) tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (TCKTVĐTNN). Song, rải rác ở các quy định bên dưới, việc xin cấp giấy phép kinh doanh hay giấy phép lập cơ sở bán lẻ vẫn được áp dụng cả cho các tổ chức kinh tế thuộc trường hợp quy định tại điểm b và c của khoản 1, điều 23, Luật Đầu tư(2).

Việc áp dụng thủ tục xin cấp giấy phép kinh doanh hay giấy phép lập cơ sở bán lẻ chỉ nên giới hạn ở các đối tượng quy định tại khoản 1, điều 23 Luật Đầu tư (bao gồm doanh nghiệp có vốn nước ngoài chi phối và doanh nghiệp con có vốn nước ngoài chi phối).

Nói một cách đơn giản dễ hiểu, trong trường hợp một TCKTVĐTNN mà trong đó có NĐTNN nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên hoặc có đa số thành viên hợp danh là người nước ngoài đối với trường hợp tổ chức kinh tế đó là công ty hợp danh (tạm gọi tắt là “doanh nghiệp có vốn nước ngoài chi phối”), thành lập hoặc tham gia thành lập hoặc có cổ phần, vốn góp với NĐTNN khác trong một tổ chức kinh tế khác (sau đây tạm gọi là “doanh nghiệp con có vốn nước ngoài chi phối”) và chiếm từ 51% vốn điều lệ trở lên thì doanh nghiệp con có vốn nước ngoài chi phối này vẫn thuộc đối tượng phải xin cấp phép giấy phép kinh doanh, giấy phép lập cơ sở bán lẻ khi thực hiện các hoạt động thuộc trường hợp cấp phép theo Nghị định 09.

Có thể dễ dàng nhận ra rằng, khái niệm TCKTVĐTNN theo Nghị định 09 đã được dẫn chiếu tương thích theo định nghĩa trong Luật Đầu tư 2014, tức chỉ bao gồm các tổ chức kinh tế có NĐTNN (cá nhân có quốc tịch nước ngoài hoặc tổ chức được thành lập theo pháp luật nước ngoài) là thành viên hoặc cổ đông(3). Như vậy, cứ hễ có cá nhân hay tổ chức nước ngoài có vốn góp, cổ phần dù chỉ chiếm 1% vốn điều lệ trong doanh nghiệp, doanh nghiệp đó sẽ được coi là TCKTVĐTNN, và tất nhiên, doanh nghiệp có vốn nước ngoài chi phối càng phải nằm trong số này. Song, các doanh nghiệp con có vốn nước ngoài chi phối như đã nêu trên sẽ không thể được coi là TCKTVĐTNN trong trường hợp nó không có bất kỳ vốn góp, cổ phần nào trực tiếp của cá nhân, tổ chức nước ngoài (ví dụ như trường hợp chỉ có doanh nghiệp có vốn nước ngoài chi phối nắm giữ vốn từ 51% điều lệ trở lên thuộc điểm b của khoản 1, điều 23, Luật Đầu tư).

Mặc dù vậy, Nghị định 09 rõ ràng đã lường trước việc các NĐTNN có thể tìm cách lách qua các rào cản pháp lý liên quan đến khái niệm TCKTVĐTNN để theo đó, bắt buộc cả các đối tượng quy định tại điểm b và c của khoản 1, điều 23, Luật Đầu tư vẫn phải xin cấp phép cho các hoạt động được điều chỉnh bởi nghị định này. Điều này, xét về mặt pháp lý, cũng không có gì trái với Luật Đầu tư khi chính khoản 1, điều 23 của luật này cũng quy định rõ các tổ chức kinh tế thuộc khoản này (bao gồm cả điểm b và c vẫn phải đáp ứng điều kiện và thực hiện thủ tục đầu tư theo quy định đối với NĐTNN, nghĩa là đối xử không khác gì so với NĐTNN hoặc TCKTVĐTNN.

Công bằng mà nói, việc quản lý và kiểm soát hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp khác đối với các “doanh nghiệp ngoại” tại Việt Nam là rất cần thiết nhằm bảo vệ thị trường và ngành sản xuất nội địa, giúp các “doanh nghiệp nội” có cơ hội từng bước phát triển và vươn lên trên sân nhà. Tuy nhiên, việc không có cơ chế đặc biệt để khuyến khích các “doanh nghiệp nội” có thể hợp tác góp vốn với NĐTNN (trong trường hợp vốn góp của NĐTNN là không đáng kể và không chi phối) mà đánh đồng tất cả các TCKTVĐTNN vẫn phải xin cấp phép là một bước lùi của Nghị định 09. Thêm vào đó, trong trường hợp các “doanh nghiệp nội” đã có nhiều cơ sở bán lẻ nhưng cần sự hợp tác huy động vốn góp từ NĐTNN để mở rộng thêm hoạt động kinh doanh thì theo Nghị định 09, thì sau khi nhận vốn góp trở thành TCKTVĐTNN hoặc tổ chức kinh tế thuộc trường hợp quy định tại điểm b và c của khoản 1, điều 23, Luật Đầu tư, các doanh nghiệp này vẫn phải làm thủ tục cấp giấy phép kinh doanh, giấy phép lập cơ sở bán lẻ(4). Điều này vô hình trung đã làm tăng gánh nặng thủ tục hành chính và làm khó cho các doanh nghiệp này cũng như làm khó cho các cơ sở bán lẻ đang hoạt động. Và mặc dù, Nghị định 09 đã có điều khoản quy định về thủ tục giải quyết cấp giấy phép lập cơ sở bán lẻ cho phép cơ sở bán lẻ đang hoạt động được tiếp tục hoạt động(5) thì với thời hạn làm thủ tục kéo dài đến gần 50 ngày làm việc và phải làm từng hồ sơ cho từng địa điểm bán lẻ đang hoạt động thì thiết nghĩ khối lượng công việc hành chính phải giải quyết là rất lớn, nhất là với các doanh nghiệp bán lẻ Việt Nam đã có hàng trăm, thậm chí hàng ngàn địa điểm bán lẻ.

Thiết nghĩ, việc áp dụng thủ tục xin cấp giấy phép kinh doanh hay giấy phép lập cơ sở bán lẻ chỉ nên giới hạn ở các đối tượng quy định tại khoản 1, điều 23 Luật Đầu tư (bao gồm doanh nghiệp có vốn nước ngoài chi phối và doanh nghiệp con có vốn nước ngoài chi phối), nghĩa là đối với các TCKTVĐTNN mà có phần vốn góp, cổ phần của NĐTNN dưới 51% vốn điều lệ hoặc một tỷ lệ khác nhỏ hơn mà theo đó NĐTNN không thể nắm quyền chi phối doanh nghiệp thì nên xem xét miễn trừ việc xin cấp phép.

(1) Điểm b, khoản 1, điều 5 và khoản 1, điều 6 Nghị định 09

(2) Khoản 5, 6 của điều 5 Nghị định 09

(3) Khoản 17, điều 3 Luật Đầu tư

(4) Khoản 6, điều 5 Nghị định 09

(5) Điều 38 Nghị đinh 09

 

LEAVE A REPLY