Đại tướng Phạm Văn Trà: ‘Chiến dịch Mậu Thân là một quyết định táo bạo’

    0
    403

    Đại tướng Phạm Văn Trà (nguyên Bộ trưởng Quốc phòng 1997-2006, tham gia chiến tranh chống Mỹ tại chiến trường miền Tây Nam bộ từ năm 1964 đến ngày thống nhất đất nước) trả lời phỏng vấn VnExpress về cuộc Tổng tiến công Tết Mậu thân 1968.

    – Bối cảnh tiến hành cuộc Tổng tiến công, nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 là gì thưa đại tướng?

    – Trước đó Mỹ từ chối công nhận Hiệp định Genève 1954, đưa quân vào Việt Nam phá hoại không cho hai miền Nam – Bắc thực hiện cuộc Tổng tuyển cử thành lập chính phủ liên hiệp thống nhất đất nước.

    Khi thất bại cuộc chiến tranh cục bộ 1960-1964, Mỹ muốn tìm kiếm một giải pháp cho cuộc chiến tại Việt Nam. Trong chiến dịch tái tranh cử, Tổng thống Mỹ Johnson tuyên bố “Việt Cộng không còn đủ sức đánh lớn được nữa. Mỹ sẽ rút quân để hai miền chiến đấu với nhau”. Đùng một cái chúng ta mở chiến dịch Tết Mậu Thân đánh vào 54 thành phố, thị xã trên toàn miền Nam. Một chiến dịch lớn nhất tính đến thời điểm đó đã khiến Mỹ không thể ngờ tới cuộc chiến ở Việt Nam sẽ còn kéo dài.

    Lúc ấy, Quốc hội Mỹ tuyên bố Johnson nói dối, người Mỹ không còn tin vào tổng thống. Chính trận Mậu Thân là bước ngoặt lịch sử của cuộc kháng chiến chống Mỹ, buộc Mỹ phải chấp nhận thương lượng, đàm phán bằng một hiệp định mới chứ không còn giải pháp nào khác. Nhờ đó chiến tranh Việt Nam rút ngắn, đi đến kết thúc.

    Đại tướng Phạm Văn Trà. Ảnh: Trần Duy.

    Đại tướng Phạm Văn Trà: “Chiến tranh là tàn phá ác liệt, phải cố gắng giữ lấy hòa bình, đừng để nó tái diễn”. Ảnh: Trần Duy.

    – Các chiến sĩ biệt động Sài Gòn lúc đó ở tâm thế đánh một trận quyết định cuối cùng. Khi phát động chiến dịch, Bộ Chính trị, Bộ Tổng tham mưu quân đội nhân dân Việt Nam nói gì về mong muốn giải phóng miền Nam ngay trong năm 1968?

    – Năm ấy đồng chí Lê Duẩn từ Liên Xô về, nói không thể đánh theo lối cũ mà phải giáng một đòn quyết định vào ý chí xâm lược của Mỹ và phải “vừa đánh vừa đàm” bởi chênh lệch lực lượng giữa hai bên còn rất lớn. Đó là ý đồ chiến lược.

    Khi ấy, miền Nam còn hơn nửa triệu quân Mỹ và hơn 1,2 triệu quân Việt Nam Cộng Hòa. Dù chúng ta đánh vào hầu hết các thành phố ở miền Nam nhưng chưa đánh được các lực lượng quân sự của Mỹ, nên không thể giải phóng ngay lúc đó được.

    Tuy không dám phổ biến ý định trên, song ý đồ đó tôi cho là táo bạo. Nếu cấp trên phổ biến lơ là thì ở dưới quyết tâm không cao nên phải nói để tất cả tập trung đánh quyết liệt cho Mỹ thấy rằng cuộc chiến còn kéo dài, để Mỹ phải rút quân.

    Lúc tham gia chiến dịch tôi là Tiểu đoàn trưởng Tiểu doàn 309 Trung đoàn 1 U Minh (Quân khu 9), được phổ biến lệnh có mức độ, bởi toàn bộ chủ trương của chiến dịch phải giữ bí mật tuyệt đối. Quá trình đánh tôi mới hiểu dần, trước mỗi trận đánh mới vừa đi vừa phổ biến mục tiêu và cố gắng giữ được trận địa càng lâu càng tốt.

    Cũng chính vì rất bí mật, nên có những trục trặc. Ví dụ, ở Sài Gòn biệt động thành đánh rất mạnh vào Đại sứ quán Mỹ, Dinh Độc Lập, Bộ tổng tham mưu… nhưng lực lượng quân chủ lực chỉ đánh vòng ngoài nên hỗ trợ không được mấy.

    Đó là điều đáng tiếc nhưng phổ biến cụ thể sẽ bị lộ không đánh được. Chính điều này cũng dẫn đến sơ hở, bộc lộ hết các cơ sở lực lượng bí mật trong nội thành, sau này rất khó khăn để gầy dựng lại.

    Lực lượng của chúng ta đã thiệt hại rất lớn trong đợt một, từ rạng sáng Mùng 2 Tết Mậu Thân (31/1/1968) đến cuối tháng 2/1968 nhưng vẫn đánh tiếp nhiều đợt sau. Sự thống nhất của các cán bộ cấp cao ở Trung ương về cách đánh thời điểm đó như thế nào?

    – Phải nhấn mạnh rằng, cuộc tiến công đợt một trên toàn miền Nam chiến thắng lớn, tác động làm cho nhân dân Mỹ hiểu rằng cuộc chiến tranh không có kết thúc, phải có hiệp định mới cho Việt Nam. Mỹ vẫn chưa chịu vào bàn đàm phán Paris nên ta phải đánh tiếp đợt ba cuối năm đó.

    Quân khu 9 chúng tôi đánh đến đợt bốn, tháng 1/1969, lúc ấy Mỹ mới chấp nhận vào Hiệp định 4 bên Paris (gồm Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa, Mỹ, Việt Nam Cộng hòa, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam).

    Thiệt hại của chúng ta rất lớn. Như tiểu đoàn của tôi từ 1.100 người đến cuối chiến dịch chỉ còn khoảng 200 người. Trên toàn miền Nam các đơn vị cũng hy sinh rất nhiều. Tuy nhiên, tôi cho rằng, kết quả cuối cùng ta thắng lợi. Phải chấp nhận hy sinh, thiệt hại để đi đến chiến thắng về chính trị, kết thúc được chiến tranh.

    Nhiều người ngoài cuộc và một số cán bộ miền Bắc trước đây không ra chiến trường, hỏi “tại sao hết quân nhưng vẫn đánh?”. Họ không hiểu rằng mỗi chiến dịch, mỗi trận đánh đều có mục đích. Ở đây là vì Mỹ lần lữa, nên ta phải đánh để buộc Mỹ vào Hiệp định Paris. Khi đạt rồi thì đấy là thắng lợi, dù hy sinh đến mấy cũng là thắng lợi.

    Sau Hiệp định Paris, ta còn phải thực hiện ba cuộc chiến nữa mới kết thúc chiến tranh. Đó là chiến dịch đường 9 Nam Lào năm 1971, trận chiến ở Thành cổ Quảng Trị năm 1972 và trận Điện Biên Phủ trên không tháng 12/1972. Mỹ phải chấp nhận ý kiến của ta, rút quân, tôn trọng độc lập, chủ quyền của Việt Nam, để nội bộ Việt Nam tự giải quyết.

    Có thể nói trong chiến tranh chống Mỹ, cố Tổng bí thư Lê Duẩn và Đại tướng Văn Tiến Dũng có vai trò chủ yếu. Nhưng công của Đại tướng Võ Nguyên Giáp rất lớn vì ông là Tổng Tư lệnh quân đội nhân dân.

    Ông Lê Đức Thọ bắt tay ông Henry Kissinger sau khi các bên ký Hiệp định Paris ngày 23/1/1973. Ảnh: AFP.

    Ông Lê Đức Thọ bắt tay ông Henry Kissinger sau khi các bên ký Hiệp định Paris ngày 23/1/1973. Ảnh: AFP.

    – Một số phân tích nói, từ chiến dịch Điện Biên Phủ, Mậu Thân đến trận chiến ở Thành cổ Quảng Trị ta sử dụng chiến thuật dùng sức người vào các trận chiến, đánh đổi sự tổn thất lớn mới có thể giành thắng lợi. Đại tướng có thể phân tích về điều này?

    – Chỉ dùng sức người làm sao chiến thắng được phương tiện kỹ thuật, mà phải có mưu kế, có sách lược. Sau này sang Mỹ, tôi từng nói với Bộ trưởng Quốc phòng của họ rằng “người Mỹ học kỹ thuật đánh nhau nhiều hơn, nhưng trong chiến tranh ông nào xử trí nhanh hơn, bình tĩnh hơn thì sẽ thắng”.

    Chiến dịch đánh vào Thành cổ Quảng Trị 1972, nhiều người hỏi tại sao đánh đến 81 ngày đêm, khi mỗi ngày có một đại đội hy sinh. Vì họ chưa hiểu được chiến trường miền Nam, nhờ có trận Thành cổ Quảng Trị đối phương mới phân tán, rút lực lượng ở các vùng chiến thuật chi viện cho Quảng Trị. Vì vậy ta chiếm được thế thượng phong khi Hội nghị Paris đàm phán trở lại và tạo điều kiện cho cách mạng miền Nam vực dậy.

    Tương tự, trước đó, khi mở đầu chiến dịch Điện Biên Phủ 1954, chỉ có một ngọn đồi A1 nhưng chúng ta hy sinh từ đầu đến cuối mà vẫn đánh. Bởi đến khi chiếm được đồi A1 rồi thì Pháp phải đầu hàng ngay.

    Trở lại cuộc Tổng tiến công Mậu Thân này, nhiều người cứ hỏi tại sao ta hy sinh gần như hết người mà vẫn đánh mãi. Bởi vì Mỹ khi ấy không chịu ngồi vào bàn đàm phán thì chúng ta phải đánh cho đến khi họ chấp thuận. Như Bác Hồ nói, dù có phải đốt cháy dãy Trường Sơn, cũng quyết giành cho được độc lập tự do – mục đích cuối cùng của chiến tranh.

    – 50 năm nhìn lại cuộc tổng tiến công Mậu Thân, điều ông trăn trở nhất là gì?

    – Khi cùng đoàn sĩ quan 160 người, hầu hết anh em ở Đồng bằng Sông Hồng vào miền Nam chiến đấu, tôi hồn nhiên không suy nghĩ gì cả. Đến khi thống nhất đất nước chỉ còn lại 16 người, mà hy sinh nhiều nhất năm Mậu Thân.

    Tôi sống sót là may mắn, nhưng còn bao nhiêu người hy sinh, bị thương, bao nhiêu gia đình mất con mới có được ngày hôm nay. Anh em cùng chiến đấu đã nằm lại chiến trường miền Nam, nên sau khi về hưu tôi tập trung đi làm công tác đền ơn đáp nghĩa, xóa đói giảm nghèo, xây nhà tình nghĩa cho đồng đội, quy tập hài cốt liệt sĩ.

    Cuộc chiến tranh chống Mỹ có thể nói là cuộc chiến ác liệt nhất, gian khổ nhất, hy sinh nhiều nhất. Riêng chiến dịch Mậu Thân thắng lợi nhưng hy sinh quá nhiều. Tôi nói điều này để tất cả mọi người sống hôm nay thấy rằng chiến tranh là tàn phá ác liệt, phải cố gắng giữ lấy hòa bình, đừng để nó tái diễn.

    >>Xem thêm: Cuộc tấn công của biệt động Sài Gòn 50 năm trước

    Tuyết Nguyễn – Trần Duy

    LEAVE A REPLY