Ai được lợi hơn từ 4G?

0
74

Các nhà mạng đã cung cấp dịch vụ truy cập Internet di động 4G tại Việt Nam từ hơn một năm nay và ngày càng có nhiều người sử dụng dịch vụ này vì tốc độ nhanh hơn so với 3G. Thực tế cho thấy nhà mạng, những cá nhân sử dụng và các đơn vị cung cấp dịch vụ nội dung trên mạng… đều có được lợi ích từ dịch vụ 4G, nhưng có nhiều ý kiến cho rằng người sử dụng dịch vụ vẫn bị thua thiệt vì chất lượng của dịch vụ này hiện chưa được như mong đợi.

Dù chất lượng 4G nhìn chung chưa được như mong đợi, nhưng dịch vụ này đang góp phần vào việc hỗ trợ cho sự phát triển của nền kinh tế số ở Việt Nam.

 

 

 

 

 

Cách đây 3-4 năm, các nhà cung cấp dịch vụ mạng di động, mà chủ yếu là Viettel liên tục lần đề xuất, thúc giục Bộ Thông tin và Truyền thông sớm cấp giấy phép khai thác dịch vụ 4G để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp viễn thông có thể cung cấp dịch vụ truy cập Internet tốc độ cao (hơn 3G hàng chục lần) nhằm đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng tại thị trường Việt Nam. Bản đề xuất nói trên nếu được duyệt cũng giúp Việt Nam không tụt hậu về công nghệ so với thế giới vì lúc đó 4G đã được hàng trăm nhà mạng trên thế giới triển khai cung cấp dịch vụ. Kiến nghị với đơn vị chủ quản chưa đủ, Viettel còn đề xuất việc này lên cấp cao hơn và kết quả là Chính phủ đã yêu cầu bộ sớm cấp giấy phép cho các nhà mạng cung cấp dịch vụ này.

Nhà mạng kiếm nhiều tiền hơn

Tính đến nay, dịch vụ 4G đã có mặt tại Việt Nam được một năm rưỡi. Mặc dù Viettel là nhà mạng đưa ra bản kiến nghị mạnh mẽ nhất về việc cần sớm cấp phép 4G, song VinaPhone mới là nhà mạng đầu tiên đưa 4G ra thị trường trong nước. Về điều này, Viettel cho biết muốn chuẩn bị kỹ cho việc cung cấp dịch vụ này trên phạm vi toàn quốc ngay vào ngày khai trương. Công ty này không muốn cung cấp 4G theo kiểu vết dầu loang tại một vài thành phố trước rồi mở rộng dần như VinaPhone hay MobiFone đã làm trong thời gian qua.

Hiện vẫn chưa có số liệu thống kê chính thức về người dùng 4G trên cả nước tính đến thời điểm này. Trong số ba nhà mạng đã cung cấp dịch vụ 4G thì chỉ có Viettel công bố về số lượng khách hàng sử dụng dịch vụ của mình. Viettel cho biết, thống kê đến hết tháng 3 năm nay, một năm sau khi nhà mạng này cung cấp dịch vụ, đã có 10,6 triệu khách thuê bao 4G và chiếm 25% tổng số khách hàng của tập đoàn này. Tỷ lệ này cao hơn tỷ lệ trung bình 10-15% tại các nước châu Á về số khách hàng thuê bao 4G trong tổng số khách thuê bao của nhà mạng trong một năm khai trương. Xét về mật độ thuê bao, Cà Mau bất ngờ là tỉnh có tỷ lệ khách thuê bao 4G/tổng số khách thuê bao di động cao nhất, tiếp đến là Đà Nẵng, Bắc Ninh và Hà Nội.

Người sử dụng dữ liệu (cả 3G và 4G) chiếm khoảng 40% trong tổng khách thuê bao điện thoại di động của Viettel, theo ông Lê Đăng Dũng, Phó tổng giám đốc Tập đoàn Viễn thông Quân đội Viettel. Tập đoàn này đang tìm cách nâng tỷ lệ người sử dụng lên 60-70% dựa vào việc phát triển từ nhóm khách hàng hiện đang sử dụng dịch vụ 2G của tập đoàn. Thực tế cho thấy khi khách thuê bao 2G hoặc 3G chuyển lên dùng 4G thì họ cũng chi nhiều hơn cho dịch vụ đã sử dụng do tốc độ nhanh hơn, người dùng có khuynh hướng sử dụng nhiều dữ liệu hơn, cho dù giá bán trên mỗi đơn vị dữ liệu là rẻ hơn hoặc bằng tùy theo chính sách giá cước của mỗi nhà mạng ở các thời điểm khác nhau. Nghĩa là nhà mạng sẽ có được doanh số trung bình từ khách hàng 4G cao hơn trước.

Viettel cho biết, ở tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, doanh thu trung bình từ một khách thuê bao 4G cao hơn ít nhất 50.000 đồng so với mức tương ứng từ 3G, còn tại Bình Thuận tăng lên từ 7-10%. Ông Thiều Phương Nam, Tổng giám đốc công ty Qualcomm tại khu vực Đông Dương, cho rằng ngay cả với mức giá cước bằng với 3G thì các nhà mạng có lợi nhuận cao hơn khi cung cấp dịch vụ 4G do chi phí cung cấp 1GB của mạng 4G thấp hơn 70% so với 3G. Theo ông Nam, hiện giá cước 4G các nhà mạng Việt Nam đưa ra cũng ở mức hợp lý.

Một trong những yếu tố giúp 4G được người dùng đón nhận là giá cước của dịch vụ hợp lý so với 3G trong khi thực tế tốc độ lại cao hơn tới 3-5 lần ở thị trường Việt Nam. Nhiều khách hàng sử dụng dịch vụ 4G của hơn một nhà cung cấp cho rằng tốc độ mạng 4G của Viettel nhanh hơn và vùng phủ sóng dịch vụ này của tập đoàn cũng rộng hơn các nhà mạng khác. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng nhìn chung tốc độ này còn chậm vì xét về mặt lý thuyết tốc độ của 4G có thể cao hơn 3G đến hàng chục lần. Phản hồi trước ý kiến cho rằng hiện tốc độ 4G tại Việt Nam chưa đạt được tốc độ thực sự, các nhà mạng cũng thừa nhận điều này và cho biết thêm, không phải lúc nào tốc độ cũng như vậy. Vào thời điểm nào có nhiều người dùng thì tốc độ sẽ chậm hơn nhưng cũng có lúc tốc độ vẫn đạt yêu cầu trong trường hợp có ít người sử dụng dịch vụ, thậm chí vào một số thời điểm tốc độ còn cao hơn tốc độ thực sự của 4G. Các nhà mạng cho biết việc nâng cao chất lượng 4G phụ thuộc vào cả yếu tố chủ quan và khách quan. Họ vẫn đang đợi cơ quan quản lý cho phép cung cấp dịch vụ 4G trên băng tần 2,6GHz vì nếu chỉ cung cấp dịch vụ trên băng tần 1800MHz như hiện nay thì khó đạt được tốc độ và chất lượng như mong muốn. Trong khi chờ đợi sự cấp phép, các nhà mạng đang mở rộng vùng phủ sóng 4G, tăng cường việc lắp đặt các trạm phát sóng 4G, tối hưu hóa mạng lưới để dịch vụ 4G cung cấp được tốt hơn. Điều này đang được thực hiện từng bước, chứ không thể làm trong một sớm một chiều.

Hỗ trợ cho nền kinh tế số phát triển

Viettel mở rộng dịch vụ 4G tại gần 60 quốc gia

Viettel cho biết đã có kết nối 4G với các mạng đối tác tại gần 60 quốc gia và khách hàng của tập đoàn có thể sử dụng dịch vụ này khi đi du lịch, công tác đến các nước này. Ngoài ra, khách hàng của các mạng tại các quốc gia này cũng có thể sử dụng dịch vụ tương ứng tại Việt Nam khi nối mạng (roaming) với Viettel.

Vùng phủ sóng 4G của Viettel đã đạt xấp xỉ 100% dân số của Việt Nam chỉ sau một năm được khai trương. Theo Viettel, sau khi triển khai dịch vụ 4G và mở rộng hợp tác về roaming với các đối tác thì số lượng thuê bao sử dụng dịch vụ này tăng khoảng 50%; tổng lưu lượng dữ liệu của các thuê bao roaming vào mạng Viettel sử dụng tăng 17 lần và lưu lượng dữ liệu mà mỗi khách thuê bao sử dụng tăng xấp xỉ ba lần.

Viettel cũng giảm mạnh giá cước nhận các cuộc gọi roaming khi khách thuê bao trả trước và thuê bao trả sau vùng vào các mạng tại Hàn Quốc, Thái Lan, Mỹ, Singapore và Malaysia kể từ tháng 4 vừa qua. Theo đó, mức giá cước áp dụng cho các chủ thuê bao của tập đoàn khi nhận cuộc gọi ở Hàn Quốc, Mỹ chỉ còn 2.000 đồng/phút, thấp hơn nhiều so với giá cước cũ là 12.100đ/phút. Giá cước nhận cuộc gọi ở Thái Lan, Singapore và Malaysia cũng giảm 59% xuống còn 5.000 đồng/phút.

Mức giá cước nói trên sẽ giúp khách hàng của Viettel tiết kiệm được nhiều chi phí cho việc kết nối mạng ở các nước nêu trên khi đi du lịch, công tác mà vẫn muốn giữ sự liên lạc với gia đình, công ty.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tại tại hội thảo quốc tế 4G-5G 2018 diễn ra vào tháng 4 vừa qua, các chuyên gia cho rằng tiềm năng của thị trường 4G trong những năm tới là khá lớn và cùng với đà phát triển của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, nhiều dịch vụ số sẽ không ngừng phát triển như: thanh toán và thương mại điện tử, các ứng dụng phát triển thành phố thông minh, tự động hóa, máy hóa, ảo hóa, dịch vụ nội dung số, dịch vụ truyền hình, nghe nhìn trực tuyến…

Tại sự kiện nêu trên, người đại diện Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) cho biết, VinaPhone (thuộc tập đoàn này) đã triển khai mạng 4G LTE và cùng với băng rộng cố định, 4G LTE sẽ là đòn bẩy để VNPT phát triển và đa dạng hóa các dịch vụ số trong thời gian tới. VNPT cũng dự kiến doanh thu ở mảng dịch vụ số sẽ đóng góp 23% tổng doanh thu của tập đoàn trong giai đoạn 2016-2020. VNPT cho biết, để tăng cường sự tham gia của mình vào việc chuyển đổi và số hóa nền kinh tế của Việt Nam và tận dụng những cơ hội thị trường đang tạo ra, VNPT đã thành lập công ty Công nghệ thông tin VNPT-IT có nhiệm vụ xây dựng các sản phẩm mà VNPT đang triển khai cho các khách hàng. Hiện nay, VNPT-IT cung cấp các dịch vụ công nghệ thông tin (CNTT) và số của trong ba lĩnh vực ứng dụng chính liên quan tới chăm sóc sức khỏe, giáo dục và chính phủ điện tử.

Ở thị trường Việt Nam, Viettel và FPT cũng đang cung cấp những dịch vụ số tương tự như VNPT. Nhờ vào 4G mà các doanh nghiệp có thể cung cấp nhiều giải pháp hữu ích, như giao thông thông minh (theo dõi giao thông và xử phạt nguội), y tế thông minh (kết nối chẩn đoán bệnh đến tận y tế tuyến xã, huyện…), nông nghiệp thông minh (sử dụng hạ tầng công nghệ thông tin có kết nối 4G để điều khiển, theo dõi việc trồng trọt chăn nuôi)… Viettel cho rằng không chỉ phổ biến ở các khu vực đô thị và thành phố lớn, dịch vụ 4G của Viettel đã len lỏi vào các vùng sâu, vùng xa của các tỉnh, đem lại cơ hội học tập và nghề nghiệp cho nhiều người dân. Việc nhiều người ở vùng xa có thể tham gia các lớp đào tạo từ xa qua mạng 4G đã tạo ra cho cơ hội phát triển cho dịch vụ đào tạo trực tuyến (online).

Trước đây, Ngân hàng Thế giới công bố bản báo cáo nghiên cứu cho thấy tỷ lệ người dùng Internet băng thông rộng tăng 10% sẽ kéo theo sự tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa (GDP) trung bình khoảng 1%. Trong khi đó để tăng trưởng lượng thuê bao Internet băng thông rộng cố định (Internet có dây) thì rất khó. Do đặc thù loại hình này phải kéo dây, không thuận lợi khi cung cấp dịch vụ đến vùng sâu vùng xa. Đây là một trong những lý do chính lý giải tại sao Việt Nam cũng chỉ phát triển được chưa đến 10 triệu thuê bao Internet băng thông rộng cố định trong 20 năm qua. Trong khi đó, xu hướng cá nhân hóa, di động hóa đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới. Thực tế cho thấy để tăng trưởng mạnh mẽ lượng thuê bao Internet băng thông rộng thì phương thức kết nối phù hợp nhất là băng rộng di động.

Các chuyên gia ước tính, mặc dù mới được đưa vào cung cấp tại Việt Nam trong hơn một năm qua, nhưng số lượng khách thuê bao 4G đã phát triển được gấp 1,5-2 lần số khách thuê bao Internet băng thông rộng cố định mà các doanh nghiệp có được trong 20 năm qua. Bởi vì 4G có tác động tới rất nhiều ngành, nghề, lĩnh vực. Với việc cung cấp các kết nối tốc độ cao, 4G hỗ trợ cho sự kết nối Internet nhanh hơn nhiều, các doanh nghiệp tận dụng được các cơ hội kinh doanh. Giờ đây ban lãnh đạo hay nhân viên của các doanh nghiệp có thể làm việc qua mạng 4G (họp trực tuyến, trao đổi thông tin) mà không nhất thiết phải có mặt ở văn phòng.

Hạ tầng mạng băng rộng di động 4G với năng lực mạng lưới và tốc độ kết nối tốt hơn mạng 3G sẽ là nền tảng để phát triển các dịch vụ viễn thông mới như: trò chơi trực tuyến, game thực tế ảo, truyền hình trực tuyến, video HD… Trong thời gian gần đây, nền kinh tế chia sẻ với các dịch vụ như Grab… phát triển mạnh tại Việt Nam tạo ra nhiều công ăn việc làm và thu nhập cho người lao động cũng một phần nhờ vào sự hỗ trợ của kết nối 4G.

LEAVE A REPLY